Dưới đấy là lời giảng Quẻ Lôi Thủy Giải theo sách "Kinh dịch - Đạo của người quân tử" của học đưa Nguyễn Hiến Lê


*

:|:|:: Lôi Thủy Giải (解 xiè)

Quẻ Lôi Thủy Giải, đồ hình :|:|:: còn gọi là quẻ Giải (解 xie4), là quẻ thứ 40 trong kinh Dịch.

Bạn đang xem: Quẻ lôi thủy giải

* Nội quái là ☵ (:|: 坎 kan3) Khảm tuyệt Nước (水).

* Ngoại quái là ☳ (|:: 震 zhen4) Chấn xuất xắc Sấm (雷).

Giải nghĩa: Tán dã. Khu vực nơi. Làm cho tan đi, như làm chảy sự nguy hiểm, giải phóng, giải tán, loan truyền, tuyên truyền, phân phát, giữ thông, ban rải, ân xá. Lôi vũ tác giải bỏ ra tượng: tượng sấm động mưa bay.

Không thể bị nạn hoài được, thế nào cũng tới lúc giải nạn, vì vậy sau quẻ Kiển tới quẻ Giải. Giải là cởi, tan.

Thoán từ

解: 利西南, 无所往, 其來復吉. 有攸往, 夙, 吉.

Giải: Lợi Tây nam, vô sở vãng, kì lai phục, cát. Hữu du vãng, túc, cát.

Dịch: tan cởi: đi về tây nam thì lợi, đừng đa sự, cứ khôi phục lại như cũ thì tốt. Tuy vậy cũng có điều đáng làm, làm cho chóng thì tốt.

Giảng: Tượng quẻ là âm khí và dương khí giao hoà với nhau, sấm (Chấn) động và mưa (Khảm) đổ, từng nào khí u uất tung hết, cho nên vì thế gọi là Giải. Cũng có thể giảng: Hiểm (Khảm) sinh ra nạn, nhờ động (Chấn) mà thoát nạn cần gọi là Giải.

Khi mọi hoạn nạn đã chảy rồi, thì dân chỉ mong an cư lạc nghiệp, người trị dân nên có chính sách khoan đại, giản dị (Tây nam giới thuộc Khôn là đường lối khoan đại, bình dị); đừng đa sự, cứ khôi phục trật tự cũ cũng đủ tốt rồi. Tuy nhiên cũng phải trừ những tệ đã tạo ra những hoạn nạn trước kia, cũng phải sửa đổi mang lại sự bình trị được thọ dài, công việc đó buộc phải làm đến mau ngừng (vẫn là ý đừng đa sự) thì tốt.

Đại tượng truyện khuyên sau thời điểm giải nạn rồi, buộc phải tha tội đến những kẻ lầm lỗi trước, nếu ko tha được thì cũng yêu cầu giảm án đến nhẹ đi (quân tử dĩ xá quá, hựu tội).

Hào từ

1. 初六: 无咎.

Sơ lục: Vô cữu.

Dịch: Hào 1, âm: không lỗi.

Giảng: Mới bắt đầu vào thời cởi mở, hào này âm nhu, mà có dương cưng cửng (hào 4) ở trên ứng, cứ lặng lẽ ở im không sinh sự thì ko có lỗi gì cả.

2. 九二: 田獲三狐, 得黃矢, 貞, 吉.

Cửu nhị: Điền hoạch tam hồ, đắc hoàng thỉ, trinh, cát.

Dịch: Hào 2, dương: Đi săn được ba con cáo, được mũi tên màu vàng, giữ đạo chính thì tốt.

Giảng: không người nào biết “ba bé cáo” ám chỉ những hào nào, Chu Hi ngỡ là hào âm 1, 3 và bên trên cùng (trừ hào âm 5). Chỉ có thể đoán ý rằng: hào này dương cương, ứng với hào 5 âm, vị nguyên thủ, cho nên thế khá mạnh, có trách nhiệm với quốc gia trừ bọn tiểu nhân (ba bé cáo), mà không mất mũi tên màu vàng (tức đạo trung trực – vàng là màu của trung ương, mũi tên tượng trưng đến việc ngay lập tức thẳng: trực). Hào từ răn dạy phải giữ vững (trinh) đạo trung đó thì mới tốt.

3. 六三: 負且乘, 致寇至.貞吝.

Lục tam: Phụ thả thừa, trí khấu chí; trinh lận.

Dịch: Hào 3, âm: kẻ mang đội đồ vật mà lại ngồi xe cộ là xui bọn cướp tới, nếu cứ giữ cái thói đó (trinh ở phía trên nghĩa khác trinh ở hào bên trên ) thì phải hối hận.

Giảng: Hào này âm nhu, bất chính, bất trung mà ở bên trên cùng nội quái, tức như kẻ tiểu nhân ở ngôi cao, ko khác kẻ vừa sở hữu đội (người nghèo) mà lại ngất ngưởng ngồi xe (như một người sang trọng), chỉ tổ xui cướp tới cướp đồ của mình thôi.

Theo Hệ từ thượng truyện, Chương VIII, Khổng tử bàn rộng ra như sau: ‘người thường mà ngồi xe pháo của người thanh lịch là xui kẻ cướp tới cướp đoạt của mình. Người trên khinh nhờn kẻ dưới tàn bạo thì kẻ cướp (giặc) tìm cách đánh đuổi ngay. Giấu cất ko kín đáo là dạy mang đến bọn gian vào lấy của nhà mình; trau giồi nhan sắc là dạy đến bọn gian dâm tới hiếp mình”.

4. 九四: 解而拇, 朋至斯孚.

Cửu tứ: Giải nhi mẫu, bằng chí bốn phu.

Dịch: Hào 4, dương: Bỏ ngón chân cái của anh đi (chữ nhi ở trên đây là đại danh từ) thì bạn (tốt) mới tới và tin cậy anh.

Giảng: Hào này là dương, tuy không chính (vì ở ngôi âm) mà lại ở gần hào 5, vị nguyên thủ, là có địa vị cao. Nó ứng với hào 1 âm, tiểu nhân ở dưới, nên bị nhiều người chê, nếu nó biết tuyệt giao với hào 1 (tượng trưng bằng ngón chân cái, ở chỗ thấp nhất trong cơ thể) thì người tốt mới vui tới mà tin cậy ở nó.

5. 六五: 君子維有解, 吉.有孚于小人.

Lục ngũ: Quân tử duy hữu giải, cát; hữu phu vu tiểu nhân

Dịch: Hào 5, âm: người quân tử phải giải tán bọn tiểu nhân đi thì mới tốt; cứ coi bọn tiểu nhân có lui đi ko thì mới biết chắc được mình có quân tử tốt không.

Giảng: hào này âm nhu, không chắc đã là quân tử, nhưng lại ở địa vị chí tôn, làm chủ quẻ, vì vậy Hào từ khuyên răn phải tuyệt giao với bọn tiểu nhân (tức bố hào âm kia) thì mới tỏ rằng mình là quân tử được.

6. 上六: 公用射隼于高墉之上.獲之, 无不利.

Thượng lục: Công dụng xạ chuẩn vu cao dung chi thượng. Hoạch chi, vô bất lợi.

Dịch: Hào bên trên cùng, âm: Một vị công nhắm bắn nhỏ chim chuẩn ở bên trên bức tường cao. Bắn được, ko gì là ko lợi.

Giảng: đã tới lúc cuối cùng thời giải, nội loạn đã an rồi, nếu còn kẻ ở ngoài dám gây loạn (tượng trưng là con chim chuẩn ở bên trên bức tường cao). Thì cứ diệt đi, sẽ thành công. Vị “công” ở trên đây là hào bên trên cùng.

Theo Hệ từ hạ truyện, Khổng tử giải thích hào này như sau: “chuẩn là một loài chim, cung thương hiệu là đồ dùng, kẻ bắn là người. Người quân tử chứa sẳn đồ dùng (tài, đức) ở trong mình, đợi thời mà hoạt động thì có gì chẳng lợi?

***

Ý nghĩa quẻ này ở vào Thoán từ: dẹp loạn dứt thì cần khoan hồng với kẻ lỡ lỗi lầm, đừng nhiều sự, chỉ cần khôi phục trật tự cũ, và củng cố nó bằng một số công việc, nhưng phải làm mang đến mau để khỏi phiền nhiễu dân.

Xem thêm: Đề Thi Cuối Học Kì 2 Lớp 5 Môn Tiếng Việt Lớp 5 Theo Chuẩn Kiến Thức

Hào 3 cũng có một lời khuyên yêu cầu nhớ: giấu cất ko kín đáo là dạy mang lại kẻ trộm vào lấy của nhà mình; trau giồi nhan sắc là dạy mang đến bọn tà dâm tới hiếp mình. (Mạn tàng hối đạo, dã dung hối dâm).